Hiển thị các bài đăng có nhãn người lớn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người lớn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 5, 2010

insi∂e I'm ∂æµ∑!µg




Hôm nay tôi kể một câu chuyện cổ tíhc.


1. Hắn được đẩy đến trước mặt mọi người, trong phòng sinh hoạt chung, với vẻ mặt không lấy gì hơn một miếng giẻ. Hắn nói nhanh kinh khủng nhưng ngắn gọn, về bản thân, về chứng thoái hóa cơ, 2 ngón tay phải còn dùng được, và cái mông của mình.

Anh ở đó, nghe được và hiểu những gì hắn nói. Trong khi mọi người thì không, họ không hiểu anh muốn nói gì. Anh bị chứng liệt não, những âm thanh anh tạo ra không khác gì tiếng kêu cá heo; chẳng có ý nghĩa gì đối với mọi người. Anh không tỏ vẽ gì là buồn. Anh thậm chí không cả nói gì về nỗi buồn.

Vậy mà không biết vì lý do gì, hắn hiểu cả. Anh cực kỳ ngạc nhiên, rồi phấn khích; lần đầu tiên trong đời, anh có thể nói cho một người khác hiểu, rằng anh đói, thông qua hắn, một chiếc máy thông dịch mắc toi phun chữ nhanh như đạn bắn. Vậy là tựa như những cơn gió của miền tây khô khóc đã quẳng Dean Moriaty vào cuộc đời của Sal Paradise, anh và hắn trở thành một cặp đôi hoàn hảo, như chưa bao giờ từng.

Hệt như Dean, hắn có cái vội vã của một kẻ không bao giờ đủ thời giờ để vui chơi, để hư hỏng, để tung hê, thậm chí không cả đủ thời gian để nói. Còn anh, lành hơn thế gấp vạn lần, thậm chí là nhút nhát. Vậy mà chỉ anh chơi được với hắn. Vậy mà họ dính với nhau như hình với bóng, dù bao giờ cũng chỉ có một người nói, luyến thoắng. Lại thêm một điều chẳng biết vì sao.

Rồi họ chuyển ra ở cùng trong căn hộ riêng, từ biệt mái nhà êm ấm của sự bao bọc của lòng nhân đạo, anh cùng hắn, nói đúng ra là theo hắn, tập tành sống cuộc đời của một con-người-cố-gắng-sống-như-người-bình-thường. Họ thuê cô, giúp việc.

Rồi số phận lại qua một khúc quanh mới, hắn chết. Và giờ đây anh đang đứng trước một cái hội đồng, một thể loại hội đồng gồm những người khỏe mạnh, bình thường và không hề tàn tật, sẽ quyết định xem liệu anh có thể tiếp tục cái cuộc sống của một người bình thường, như họ đang, hay là trở về với mái ấm bao bọc của tình thương lòng nhân đạo, không cùng họ.

Và bạn tin không, trước câu hỏi của một thành viên hội đồng: "What was your purpose in coming here today?", anh, với sự giúp đỡ của cô, thông dịch viên mới, bạn có tin không?, thay cho miệng hắn, đã trả lời rằng:

- A right must exist independently of its exercise.


Bạn có tin không?



2. Người lớn thật kỳ lạ! Họ có vô vàn những lý do để không tin vào một câu chuyện, rồi cũng cần ngần ấy lý trấu để lại tin vào chính câu chuyện đó, rồi họ lại bày ra cũng chừng ấy bùng nhùng chỉ để chứng minh câu chuyện đó là có thật, với một người lớn khác mà lại cũng có sẵn một mớ tương đương lý với lươn, để chống lại. Hình như họ quên mất, cách tin tưởng, của một đứa trẻ, như một đứa trẻ. Mà lại chính họ, nghĩ ra những câu chuyện cổ tích để ru ngủ đứa trẻ. Vậy mà họ chẳng hề tin; họ chỉ đọc chúng thôi.



3. Con bé nằm đó, mặt xoay ngang giấu mắt vào cái nhắm chặt, tay trái bịt kín cố chặn miệng, nấc lên từng hồi, dù cố gắng nhưng không sao kìm được, nó đang rất hoảng sợ. Cánh tay phải vẫn nằm yên, không hề co lại.

Thằng nhỏ nằm kế bên, vẫn chưa tỉnh, nhưng sắc mặt đã phần nào hồng hào trở lại. Thật may mắn, cho nó, vì con bé có cùng nhóm máu. Thật may mắn!

Anh bác sĩ tóc vàng và bà y tá mắt xanh đứng bên cạnh nhìn mà không làm gì được. Họ không hiểu con bé đang sợ hãi gì. Họ cũng không biết làm gì để an lòng con bé. Họ không thể hỏi hay trò chuyện với con bé được. Họ không biết tiếng.

Phải một lúc sau, với sự có mặt của hai cô y tá bên quân y đến, sau một hồi trò chuyện, con bé mới thôi khóc. Rồi nó cười, rất tươi.

Hỏi ra mới biết, con bé sợ truyền hết máu cho bạn thì nó sẽ chết.
Hỏi lại mới biết, vì sao con bé sợ chết mà vẫn truyền máu cho bạn, nó quay qua, tỉnh bơ nói:

- Vì nó là bạn con.




4. "Hạnh phúc là được tin vào những câu chuyện cổ tích".




Bạn có tin không?
















Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2010

.



http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2010/04/3BA1B2CF/



Những nỗi buồn len lén giấu vào tất
Mỗi bước đi nhanh toét miệng cười.














Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

Đám cưới - người Việt




*(bài này sẽ lại dài) tặng Tr, mụ phù thủy không biết bay không biết bơi nhưng khoái trèo cửa sổ.




1. Trở lại những ngày đầu của cuộc Nam tiến, hai chữ khẩn hoang chưa hẳn đã xuất hiện như là một ý tưởng chủ đạo trong suy nghĩ của vị hoàng thân họ Nguyễn; Nguyễn Hoàng cùng với gia đinh tiến vào vùng đèo Ngang hoang sơ, đầu tiên và hoàn toàn là để được sống. Thời cuộc binh biến, thế lực lớn mạnh của người anh rể là mối nguy chờ chực. Vùng đất và cơ nghiệp trung hưng vừa mới manh nha thành hình, nay đã trở thành đất dữ, khó lòng ở lâu. Muốn sống, Nguyễn Hoàng phải vào Nam.

Xét tới thời điểm bấy giờ, đấy không phải là cuộc khai khẩn đầu tiên, càng không phải là một cuộc phiêu lưu vĩ đại gì; nhưng chính là bước đầu tiên quan trọng cho cả một công cuộc khai khẩn dày công sau đó: cũng như Nguyễn Hoàng, những con người không nhìn đâu ra tương lai ở vùng đất cũ, lên đường Nam tiến tìm kiếm cuộc đời mới. Những người đi vỡ đất, chỉ với niềm hy vọng mở đường: sống. Những người đi, phần nhiều, cũng chỉ vì thế.

Đất Nam thành hình dần qua bao mùa nước nổi, nhờ vào bàn tay và khối óc của biết bao thế hệ cần lao - những người khắp xứ bôn ba đến nơi đây, mưu cầu cuộc sống. Bất kể xuất thân, bất kể tiếng nói, họ, những kẻ bỏ lại quê hương, tề tựu về đây dưới cùng một hy vọng, tề tựu về đây trong cùng tiếng nói, để an cư rồi lạc nghiệp. Hoặc khả dĩ là lại tiếp tục cuộc bôn ba.

Đất Nam không từ một ai, đất Nam đãi tất cả, sang hay hèn, con buôn hay chiến binh, công bằng và dung dị như nhau. Miễn là họ có những tháng năm gian nan ngược xuôi trên mảnh đất này. Đấy là một tinh thần Ngọc mà không phải mảnh đất nào ở Viễn Đông cũng có.

Đất Nam ở đây là dải đất phía Nam, kéo dài theo chiều cong đuôi chữ S của nước Việt. Người Việt nói tiếng Việt, dù đi đến bất cứ đâu vẫn là người Việt.

Tiếng Việt còn thì người Việt còn, người Việt còn thì nước Việt còn.


2. (Về chữ và nghĩa)

An cư rồi lạc nghiệp, cuộc sống dù ở đâu rồi cũng (đã) phải có lần nghĩ đến: muốn lạc nghiệp (thường) phải an cư, muốn an cư (thường) phải lập thất; không phải là duy nhất, nhưng là thông thường nhất. Lựa chọn giữa đời sống độc thân tự do bay nhảy, hay cuộc đời hai mình yên ả và trách nhiệm là chuyện không phải để bàn. Việc gì cũng có giá. Nhưng một khi đã chọn cái hạnh phúc bình dị và yên ấm ấy, đám cưới là bước tiếp theo hiển nhiên, ít ra là đúng với (phần nhiều) người Việt. Đám cưới là niềm vui bắt đầu. Đám cưới người Việt bắt đầu bằng niềm vui báo tin.

'Đám cưới' là tiếng Nôm, thường được dùng trong báo tin và chuyện miệng. Còn lại thường các chữ được dùng 'chính danh' treo bảng, như: vu quy, kết hôn, thành thân, thành hôn ... đều có gốc chữ Hán.

Theo Từ điển Hán-Việt giản yếu của Đào Duy Anh:

- vu trong vu quy có nghĩa là 'đi qua', quy nghĩa là 'về - trở về': vu quy (có thể hiểu) là đoàn rước đưa cô gái đi qua đoạn đường dài (ngắn càng tốt) trở về nhà của chàng trai (mà cô sắp sửa gọi là chồng).

Cũng theo đó:

- hôn trong kết hônthành hôn là cùng một chữ, nghĩa là buổi chiều hôm, lấy vợ, (wikipedia tiếng Việt trong phần Lễ cưới hay Đám cưới Việt Nam, cũng dẫn theo Đào Duy Anh, ghi: hôn nghĩa là buổi lấy vợ thường diễn ra vào buổi chiều hôm).

- kết nghĩa là 'thắt buộc lại với nhau - tụ họp lại'; thành nghĩa là 'xong - nên việc - dựng nên': (ngày) thành hôn là (sau bữa này nữa) là việc lấy vợ xong rồi; kết hôn là (bữa mà mọi người tụ họp lại với nhau để chứng kiến) người con trai cùng người con gái thắt buộc cuộc đời lại với nhau. Tuy nhiên, chữ hôn còn có hàm nghĩa là 'theo chồng'.

- thân nghĩa là 'thương yêu - gần gũi - cha mẹ - họ hàng': thành thân, do đó, có thể hiểu là (buổi mà) việc người con trai và người con gái trở thành những người thương yêu gần gũi như ruột thịt (sau buổi đó) là xong.


3. Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trọng lễ vẫn còn dấu vết trong xã hội hiện tại, rõ ràng nhất là trong các tập tục truyền thống. Đám cưới người Việt cũng vậy. Sử dụng các Hán-Việt từ như là 'chính danh' cho các dịp, hội trang trọng là một cách thể hiện sự trân trọng và ước muốn hạnh phúc, ngoài ra, còn là thể hiện một quan điểm: đám cưới người Việt là cưới vợ - theo chồng.

Tất nhiên, từ ngữ và ngữ nghĩa phải luôn được xem xét trong mối tương quan với bối cảnh xã hội đồng thời. Những hoạt động của xã hội con người, cũng như xét về quan niệm của thời đương đại, làm thay đổi, hoặc cả biến đổi, ngữ nghĩa của từ ngữ rất nhiều, so với nghĩa đầu tiên được ghi nhận. (Mà) xét cho cùng, chữ với nghĩa rốt cuộc cũng chỉ là công cụ (cố gắng) thể hiện mong muốn của chính con người.

Xã hội mỗi thời mỗi khác, con người mỗi lúc một khác, và từ ngữ, cho dù trong cùng một thời, cũng là rất khác nhau. Ví dụ như đám cưới là: Hochzeit trong tiếng Đức, Bruiloft trong tiếng Hà Lan, शादी trong tiếng Hindu, ślub trong tiếng Ba Lan, boda trong tiếng Tây Ban Nha ... Tuy khác nhau về tiếng nói và chữ viết, nhưng đám cưới ở đâu cũng vẫn là đám cưới. Và nếu phải chọn một chữ có thể nêu lên, gói gọn tất cả tinh thần chung nhất của đám cưới, tôi chọn 'thành thân': hai con người, tự nguyện đến với nhau, gắn bó yêu thương như ruột thịt. Không phải là chồng cưới vợ, không phải là vợ theo chồng, mà là (cùng nhau) thành thân.

Bất định là tất định, không ai có thể nói trước về cuộc đời. Dù cho là xuất phát từ một tình yêu say đắm và nồng nàn, hay là một nguyên nhân nào đó khác, thì cũng không thể nào là lý do đảm bảo cho một cuộc hôn nhân luôn toàn vẹn và dài lâu. Bản chất con người vốn thay đổi. Nhưng nếu không có ý niệm nguyện cùng hạnh phúc lâu dài, thì đám cưới cũng chẳng nên là đám cưới để làm gì. Ít ra là phải có ở lúc ban đầu, ít ra là nên có tới trước lúc con người thay đổi.

Bởi lẽ, thành còn có nghĩa: là 'nhất định không thay đổi'. :)











Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

trẻ con biết nói dối.


đổi đề, bỏ tiêu, sửa chữ, cơ bản là vầy.



Một dạo, tờ báo danh tiếng của tuổi trẻ thành phố đã cho đăng loạt bài bàn về một vấn đề xã hội không cũ: đạo đức; đối tượng được nhắm tới và cũng là những người lên tiếng mạnh mẽ nhất thông qua đó chính là những người trẻ: có người đồng tình, có người ủng hộ và có cả những tiếng nói bức bối: "Trung thực, tôi được gì?". Vậy trung thực người ta được gì?

Chưa nói tới ích lợi của việc nói dối hay nói thật, chỉ riêng việc đặt câu hỏi cho tính trung thực đã nói lên được một điều: người ta chỉ nghi ngờ sự hiển nhiên của cái gì đó khi cái hiển nhiên đó không thật hiển nhiên. Và hiển nhiên những gì chúng ta thấy hằng ngày là những hiển nhiên "chân thật" nhất. Có lẽ vì vậy mà chúng ta dễ dàng chấp nhận những lời nói không thật hơn chăng?

Định nghĩa được thế nào là nói thật và thế nào là nói dối, thật không phải là điều dễ dàng. Càng không dễ dàng để nêu lên rõ ràng khi nào thì nên nói thật và khi nào thì buộc phải (do bởi) nói dối - hoặc nói không thật. Chúng ta vẫn cứ nói thật và nói dối đều đều, mặc dù thật sự không dễ, hoặc là không thể, xác định được chính xác thời điểm bắt đầu của những lời nói dối. Không chỉ của những lúc hôm nay, mà tận hồi chúng ta còn bé: lời nói dối bắt đầu xuất hiện khi nào?

Ai cũng từng là trẻ con; ai cũng từng ít nhất một lần nếm phải "đòn roi" vì lỗi nói dối. Sự nghiêm khắc là cần thiết, hoặc ít ra, bày tỏ thái độ nghiêm khắc và dứt khoát với sự dối trá là một trong những hành động thông thường của phần nhiều các bậc cha mẹ: đối xử cứng rắn, đôi khi biểu hiện thành roi vọt, là cách thể hiện mong muốn giáo dục trẻ con thành người tử tế, mong muốn giúp trẻ nhận thấy đâu là đúng, đâu là sai, những điều tốt đẹp. Cho dù điều hiệu quả và tác dụng thì không ai có thể chắc được.

Khác với người lớn, trẻ con chưa có được những kinh nghiệm sống chung, cũng như sự kiểm soát về mặt xã hội. Trẻ tương đối mù mờ đối với những tiêu chuẩn - khái niệm đạo đức phổ quát, vì đó cho nên, đương nhiên, tỏ vẻ dửng dưng với những điều hiển nhiên đã được chấp nhận khác. Tuy nhiên, trẻ con cũng có những mối quan tâm riêng, hệt như cách người lớn quan tâm đến gia đình, tiền bạc và các vấn đề xã hội vậy. Khác biệt nằm ở quá trình kiểm soát; người lớn có thể duy trì một tình trạng từ khước những mong muốn của bản thân, nếu điều đó có ảnh hưởng xấu hoặc không tốt tới những mối quan hệ xã hội khác, hoặc nói đơn giản, là có mâu thuẫn với lợi ích của một người khác. Trong khi đó, trẻ con thể hiện sự quan tâm và mong muốn trực diện hơn, thẳng thắn hơn, vì vậy, ít có sự kiềm chế hơn.

Khi bị từ chối, hoặc ngăn cản, đứa trẻ sẽ phản ứng bằng cách tìm kiếm những phương cách ít trực diện hơn, những lý do lòng vòng hơn để biện minh cho mong muốn của mình, ít ra theo cách đó, đứa trẻ mong muốn có thể tiếp cận (gần hơn) với cái mình muốn. Hiển nhiên, thường xuyên người lớn nhận ra sự lập lờ ở một đứa trẻ (giống như lơ ngơ mà đem đặt cạnh lọc lõi vậy). Nếu hệ quả không nghiêm trọng và chưa có gì đáng tiếc, đa phần là vậy, đứa trẻ sẽ được khen là "thông minh" và "biết chuyện", cùng lắm là được quẳng cho một chữ "xạo". Nhưng với trường hợp có hệ quả là không mong muốn và (thấy) có phần trầm trọng, thái độ của người lớn sẽ nghiêm nghị hơn, và "hình phạt" sẽ thể hiện tính răn đe rõ ràng hơn. Đứa trẻ sẽ được dạy bằng "đòn roi" rằng mình đang nói dối, bởi nói dối là không tốt và "đòn roi" thì thấm sâu, nhớ lâu hơn lời.

Hiển nhiên, nói dối là không tốt.

....


Thực ra, nói dối là khái niệm hoàn toàn người lớn. Nói đơn giản hơn, trẻ con không biết nói dối, nếu có biết, là nhờ sự hời hợt trong cách ứng xử của người lớn đối với trẻ con.

Không như người lớn, trẻ con không có mối quan tâm đa mục tiêu như người lớn, cũng như chưa hề, hoặc không hoàn toàn, quan niệm về sự thật như cách của người lớn; những gì chúng thấy, những gì chúng nghĩ đều là (đối với chúng) sự thật. Hơn nữa, mối quan tâm và cách quan tâm của chúng giản dị hơn nhiều, so với cung cách tương ứng ở một người lớn: chúng đơn giản chỉ biết nghĩ tới cái mình muốn và làm mọi cách để thỏa mãn điều đó; chúng đơn giản là rất hạn chế trong khả năng nhận ra các hệ quả và các mối liên hệ giữa cái mình muốn và những tồn tại xung quanh. Trái lại, với quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài có được nhờ sự cọ xát qua các hoạt động mang tính xã hội, nên người lớn có xu hướng để ý và khả năng nhận biết các hệ quả phụ không mong muốn (có thể) xảy ra đồng thời. Song song với quá trình tăng lên về mức độ nhận biết, người lớn cũng (phải) quen dần với việc nói dối hoặc bị nói dối, có hoặc không mong muốn, ít hay nhiều sự chủ tâm, hoặc từ sự truyền dạy từ những người lớn lớn trước nữa. Bị thói quen xâm chiếm, người lớn cũng quen luôn với việc nhìn nhận những hành động của trẻ con với thái độ đối với một người lớn, như là hành động của một người lớn, như mình hiện thời. Họ (lại) đứng vào vị trí truyền dạy đối với những trẻ con của hôm nay, hệt như cái cách họ được đối xử khi còn là trẻ con vậy. Và cái sự lẩn quẩn (vẫn) tiếp tục quay vòng.

Chúng ta, những người lớn xấu xí, đã (lại) chọn một cách thật tệ hại để bắt đầu (lại) tương lai.

....


Chuyện nói thật hay nói dối là một chuyện khó lòng nói cho thõa, nhưng có thể ví von, một cách khập khiễng, như ca sĩ hát thật hay hát nhép (lip-sync). Hát thật thì (giọng) phải tốt, phải khỏe; muốn thế phải tập luyện nhiều, đồng nghĩa với việc tiêu tốn không ít thời gian lẫn cơ man nào là mồ hôi, sức khỏe. Nhất là sự kiên trì. Hát nhép đơn giản hơn nhiều, mà thậm chí chẳng cần hát. Nhưng một khi chẳng cần phải hát cũng có thể trở thành ca sĩ thì ca sĩ cũng chẳng còn là ca sĩ nữa.

Tất nhiên việc gì cũng có ngoại lệ và mọi lý luận đều là màu xám. Không thể xem xét và đánh giá điều gì chỉ thuần dựa trên lập luận, hoặc dựa trên hạn hữu những gì thực trông thấy. Cuộc đời vô cùng. Tốt hay xấu không phải là chuyện để đánh giá (lại) hoặc nhận xét suông; cuộc sống không thể cứ mãi đứng mà chờ đúng đắn soi đường. Có khi điều xấu lại là khởi đầu cho một tốt đẹp liền sau.

Nhưng điều đó không quan trọng. Vấn đề quan trọng, và cũng là câu hỏi (được) đặt ra: bạn, những trẻ con một nửa đang và đã trở thành người lớn một nửa, có sẵn sàng để trở thành, cho dù là, một ngoại lệ, hay không?







Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Về các bà mẹ.



Tới một lúc nào đó, các bà mẹ trở nên nói nhiều kinh khủng. Chuyện không phải là thái quá; vốn thường các bà mẹ là đã nói nhiều. Mặc định như thể mặt trời mọc ở hướng đông, và một thời, trái đất là hình vuông, tận các biên của đường chân trời: các bà mẹ là nói nhiều; vốn đã nhiều nay lại càng nhiều. Mà tệ hơn, là khi nói về những đứa con. Tệ hơn nữa, là khi chính đứa con đang ngồi nghe, mà nó thì chẳng tỏ vẻ quan tâm gì. Bi kịch nhất là nó cứ ngồi nghe trong khi chẳng tỏ vẻ gì là đang nghe nhưng vẫn cứ tiếp tục ngồi nghe mà không tỏ vẻ đang nghe gì; tràng giang đại hải vô thiên lủng liên miên man tùng phèo chuyện cứ thế tuôn.

Mà tình cảnh hôm ấy cũng thật éo le. Tôi thấy bà, khi bà đang lơ ngơ đi dọc hành lang sạch trắng của cái bệnh viện sạch bong này. Không phải tôi quá rảnh rỗi, hay là tôi chợt thú tính đâm nhiều chuyện lọ xọ chuyện kia; bà đi ngang phòng tôi, nói đúng hơn là chỗ tôi ngồi, lần này là tới lần thứ bao nhiêu rồi tôi cũng chẳng buồn đếm. Ngẩng đầu lên là tôi lại thấy bà đang trước cửa, dáo dác. Bà đi tìm toilet. Phải chi tôi đã không biết.

Bà đi tập vật lý. Sáng thằng nhỏ chở đi sớm, tập xong, bà tự bắt buýt về. Bác sĩ chỉ định mổ, bà cương quyết cãi; bà tự phác đồ cho mình: mát-xa, bấm huyệt, châm cứu kết hợp với vật lý trị liệu, và đương nhiên, cộng với cả một mớ lằng nhằng thuốc với thuốc. Ông bác sĩ quen, chồng của bà bạn, bảo: cứ kiên trì, chừng nào không đỡ rồi thì mới mổ. Con bà, thằng lớn, cũng khuyến khích mẹ đi tập, mổ hay không thì người cũng phải khỏe trước đã. Thế là bà cứ đi; và thế là tôi cứ nghe. Bà sợ mổ.

Không khó khăn gì để biết được những chuyện vừa trên, và còn nhiều hơn nữa; người già mau chuyện. Tôi ngồi trên ghế, hơi chồm người, khuỷa tay co, hai bàn tay lồng vào nhau phía trước miệng, và nhìn bà. Con người trải qua bao nhiêu sóng gió của cuộc đời để rồi có được những buổi gặp gỡ, những cuộc giải bày như thế này, những lần được nói, trong bệnh viện, với một người xa lạ, như chưa bao giờ? Những tảo tần và bươn chải, rốt cuộc, mang đến cho người ta cái gì khác, nếu như không kể đến một chút của cải và và một lối sống nhàn hạ hơn, thảnh thơi hơn, ít ra là về mặt vật chất: thời gian và tiền bạc dư dã cùng đồng hành với tuổi già. Ít ra, trông bà cũng không phải người vừa chạy cơm vừa chữa bệnh. Âu cũng là điều an ủi. Mà tôi cũng chỉ đoán vậy.

Tôi nói không nhiều; sân khấu chủ yếu là của bà; người nghệ sĩ già đang trong cao trào độc thoại về cuộc đời; những chiêm nghiệm theo năm tháng cứ tuôn ra, đa phần không phải là cho tôi. Chính yếu là cảm giác được nói, là dành cho những quãng thời gian đã nắm giữ chúng lại. Bà nói về con trai, bà nói về tự hào. "Của để dành của mẹ", quay qua quay lại thể nào các bà mẹ cũng nói thế; họ chán phèo theo cùng một cách.

Đương nhiên tự hào là con trai; con gái thường thích (hay có thể) tỉ tê, tự hào đó không cần phải đem khoe, phần nhiều, có gì muốn nói thì những câu chuyện nhỏ to đã lấy mất rồi. Con trai thường vô tâm, và vì thế các bà mẹ lại càng nói nhiều. Chắc là thế. Và chán phèo cũng từ đó mà ra.

Con người vốn giống nhau; các bà mẹ càng giống nhau; và các cậu con trai của mẹ lại càng giống nhau nhiều chỗ. Tôi cũng là con trai, và tôi cũng còn mẹ. Tôi ngắm bà, trong khi bà đang ngụp lặn trong ký ức. Bà có vẻ ngoài không già như những con chữ tôi miêu tả, ngược lại, bà tỏ ra trẻ trung và sinh động. Nhưng bà đúng là một bà mẹ với mái tóc điểm bạc, với cái nhìn nhăn nheo và xơ xác, vì bệnh, vì tuổi; nhưng gương mặt sẽ lại sáng rực trong hai chữ con trai. Mà không nhất thiết phải nhìn mới thấy bà rực sáng. Mẹ tôi cũng vậy. Tôi đã thấy, không biết đứa con thì sao.

Đột nhiên, tôi nhớ đến Nhiệt đới buồn: những trí tuệ được xưng tụng vĩ đại hoặc là có giá rẻ bèo, hoặc là biếu không, hoặc là lâm vào tình cảnh không có đầu ra. Nghĩ cũng buồn cười, mà cười méo xẹo. Tôi cũng không định làm chuyện này buồn ra thế này; tôi muốn nhìn thấy nó khác đi. Như cách bữa đó bà cuốn tôi vào câu chuyện của mình; buổi sáng của tôi trở thành một dòng sông, trong câu chuyện bà.







* Khuyến mãi:

- Tôi chia Cuộc đời con người thành ba quãng nhỏ; tên gọi có thể khác nhau, mốc chia có thể khác nhau, thậm chí có những người không bao giờ thấy, không bao giờ hiểu ra cái lẽ giản đơn rằng may mắn lớn nhất cuộc đời mình là may mắn được sống. Tôi không có ý chê bai gì; tôi chỉ muốn nhớ, tôi chỉ muốn viết. Vì tôi đã thấy, và may mắn cho mình, là tôi được thấy. Cái lớn lao nhất của cuộc đời không phải là vũ trụ: đó là vòng tay của người mẹ; của người con; và của người yêu. Tùy vào cơ may mà một người sẽ thực trải, và chỉ có thực trải mới làm con người thực sự là người. Tôi chỉ mới thấy, mà thấy là chỉ biết, mà biết là bước đầu tiên đi đến tồn tại. Mong vậy.

- Hạnh phúc cho những ông bố nhận ra sự lớn lao của vòng tay con nhỏ, và may mắn cho những đứa con có được khát khao làm bố, như bố của mình, một ngày không quá xa, ngay từ những ngày đang còn nhỏ.

- "Thật là đàn bà!", không biết người ta còn dùng ngữ này để nói về những người đàn bà như thế nào nữa, tôi thật sự không đoán hết được. Nhưng nếu dùng để nói về cái hạnh phúc tủn mủn và thường vặt của các bà mẹ, thì thú thật, ngay từ lúc còn rất nhỏ, tôi đã có những giấc mơ bình thường như thế. Tôi con trai, và tôi mơ giấc mơ "đàn bà"; phải chăng tôi "đàn bà"?

- Nhân tiện, tôi không phải bác sĩ.










Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2009

Nhân ngày Nhà giáo nói chuyện trẻ con.



Tôi đã từng là trẻ con. Hiển nhiên như thế đối với những người khác nữa, cả với những ai đang nhìn vào những dòng chữ này; tất cả mọi người lớn đều đã từng, hoặc có thời, được là trẻ con. Lúc đó, hiển nhiên, chúng ta không hề biết chúng ta là trẻ con, tạm chấp nhận vậy đã.

Tôi không nhớ rõ lắm tuổi thơ mình. Cả với quãng thời gian gần đây, cả với những khoảnh khắc tôi vừa lướt qua, và cả những gì tôi vừa làm không lâu; ký ức đối với tôi luôn là lớp màn mờ, chập chờn của tâm trạng và cảm xúc, mà tôi cũng không tài nào phân biệt được đâu là do bản thân mình ghi nhớ được, đâu là sự ghi nhớ hộ của người lớn. Những mẩu chuyện được kể lại, nhiều lần, trở nên sống động như thể chính mình tận mắt thấy; ký ức lắm khi thực đến độ ngỡ rằng có thể chạm tay vào. Chắc cũng vì vậy mà càng lớn, người ta càng thích hồi tưởng, càng già người ta càng nhớ người ta trẻ.

Tôi cũng không biết mình bắt đầu ghi nhớ cuộc sống có chủ đích là khi nào. Cũng như tôi không thể nhớ được là mình bắt đầu sống khi nào. Thậm chí tôi cũng không thể cho bạn một hình dung đầy đủ về cuộc sống, rằng sống là gì, và thế nào là sống, của tôi hay của bạn đều thế cả. Nhưng tôi biết chắc rằng, cái khoảnh khắc bạn hồi tưởng về thời trẻ con của mình cũng chính là lúc bạn thôi không còn trẻ con nữa. Ít ra là đúng theo cái nghĩa trẻ con mà những và nhiều người lớn thường quen gọi. Những người lọm khọm đó chỉ được cái chui ra sớm hơn tí thôi mà.

Tới đây, chắc bạn cũng nhận ra, tôi không còn là trẻ con, bây giờ. Nhưng việc đó có hề gì. Người ta cứ trẻ hễ người ta còn đủ sức để mà trẻ; nên tôi cứ trẻ con, một khi tôi còn muốn được là trẻ con. Tới chừng chán rồi hẵng hay.

Tôi thích trẻ con. Không phải vì tôi đã từng là trẻ con, càng không phải vì tôi đã từng là một trẻ-con-hay-ho-nhất-trần-đời. Đấy không thể là lý do được và thời trẻ con của tôi cũng trẻ con như thời mọi người trẻ con thôi; đấy càng không thể là lý do bởi vì lý do là người ta không thể chỉ vào con gà mà kêu là vịt, chỉ vào vịt trời mà kêu thiên nga. Lẩn tránh và dối trá không bao giờ có thể phủ nhận được tồn tại. Cũng như không có gì có thể phủ nhận sự thích trẻ con của tôi; tôi thích trẻ con, bởi vì, đơn giản và trước nhất, chúng là trẻ con. Sự thể vốn giản dị mà.

Tôi có nói tôi ghi nhớ sự kiện một cách chập chờn chưa nhỉ? Vì thật tình rằng tôi không thể nào nhớ cho rõ ngọn ngành một cái gì, ít ra là đủ nhớ để có thể mô tả lại rõ rành bằng lời; tôi không thể. Thậm chí tôi không thể ghi nhớ một khuôn mặt ai mà không ít nhiều làm méo mó hình dung đó. Nhiều lúc, tôi nhớ một người bằng cách ghi nhớ giọng nói, dáng người, mùi, hoặc là cả ba. Nhưng việc đó cũng không thể giữ cho khuôn mặt của người đó không méo mó; hiếm khi tôi có thể nhìn vào mặt ai đó mà không cảm thấy một chút ngờ ngợ. Những khuôn mặt người luôn bị trí nhớ bóp méo. Hay là ký ức tôi vốn méo mó rồi?

Mà, người lớn nhiều khi thật là phiền, lại còn hay lăn tăn nữa. Người ta làm đủ cách, nghĩ đủ trò để nói với trẻ con rằng suy nghĩ độc lập là quan trọng như thế nào, rằng con người phải học cách hành động theo lương tâm và lắng nghe tiếng nói của lương tri, rằng tất cả mọi người đều có quyền được tôn trọng và sống cuộc đời riêng mình trong sự tôn trọng của tất cả mọi người còn lại; thế mà họ toàn làm ngược lại. Đừng có nói kiểu như cư xử lễ phép là đạo đức cho trẻ vị thành niên! hay "sau này lớn lên con sẽ hiểu". Đừng có cố lẩn tránh như vậy chứ. Ngay cả can đảm để đối diện với những gì mình làm cũng không có thì làm sao người lớn có can đảm để đối diện với trẻ con đây.

Dù người lớn cũng có lúc dễ thương, nhưng mà, người lớn là chúa lắm điều, lại còn hay mất kiên nhẫn nữa chứ. Mà, ghét nhất là người lớn rất là phiền. Người lớn cứ việc đi làm đi, rồi than vãn đi, rồi nhậu nhẹt đi. Cớ gì cứ hễ trẻ con bắt đầu thích thú cái gì đó là y như rằng người lớn lại e hèm, lại ngó nghiêng, lại nheo mày, lại hăm he? Sao mà người lớn không yên lặng được, chỉ một lúc thôi vậy?

Đã thế, sao người lớn cứ mãi lo bận tâm những chuyện người lớn đâu đẩu đâu đâu mà không nhìn thấy những chuyện trẻ con bé ti ti trước mắt? Sao người lớn cứ chơi cái trò lòng vòng kiểu người lớn mà không chịu hiểu những chuyện đơn giản như liếm một cây kem, hay ăn một cái kẹo? Giờ nói một tiếng đi, người lớn có chịu hiểu hay không?

Mọi sự vốn giản dị mà. Đâu cần phải to tát như giáo dục với cải cách, hay chuyện thi chung hay riêng, hay chuyện cuốn sách; mọi sự đều có thể bắt đầu từ một cái xoa đầu, như cái cách bố Atticus xoa đầu tụi nhỏ, rồi nói: "Chưa đến lúc phải lo". Đơn giản vậy thôi. Chỉ cần đơn giản vậy thôi.

Mà, người lớn đang ở đâu dzậy?

Chán người lớn lắm rồi! Mà, tôi chán luôn cả tôi, chán cả cái trò trẻ con giả hiệu này nữa. Giá như có thể đi ngủ phát cho xong.














Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Không việc gì phải vội.